Ngày 22 tháng 8
Trông xa như dải ngân hà
Triều thần thiên quốc chan hòa niềm vui
Nhạc thiêng réo rắt muôn lời
Hương trầm tỏa khắp đất trời thêm say
Ba Ngôi Thiên Chúa mong thay
Thưởng công Tỳ nữ với đầy phúc vinh
Nữ Vương toàn cõi thiên đình
Thế trần chung tiếng Kính Mừng Nữ Vương.
Thật tuyệt vời và có ý nghĩa sâu xa, sau 4 năm tuyên tín Đức Mẹ hồn xác về trời, vào ngày 01.11.1954, Giáo Hội thiết lập lễ Đức Maria, Trinh Nữ Vương, mừng vào ngày 22.8, bảy ngày sau ngày 15.8, như sự gắn kết chặt chẽ giữa việc Đức Maria được triệu hồi về thiên quốc cả hồn lẫn xác, sau khi đã hoàn tất sứ mạng trong trần thế, và được Thiên Chúa Ba Ngôi phong làm Nữ Vương Thiên Quốc.
Từ “NỮ TỲ…
Nếu Mẹ đã sống một hành trình Đức Tin cam go, thử thách từ khi đáp lời “xin vâng”, thì để sống Đức Cậy, Mẹ cũng phải đón nhận nhiều gian nan, trắc trở. Thật vậy, “Tin là hy vọng”[1]. Từ khi được truyền tin, Mẹ luôn “suy đi nghĩ lại trong lòng” lời của sứ thần: “Bà sẽ thụ thai, sinh hạ một con trai, và đặt tên là Giê-su. Người sẽ nên cao cả, và sẽ được gọi là Con Đấng Tối Cao. Đức Chúa là Thiên Chúa sẽ ban cho Người ngai vàng vua Đa-vít, tổ tiên Người. Người sẽ trị vì nhà Gia-cóp đến muôn đời, và triều đại của Người sẽ vô cùng vô tận”[2].
Là Nữ Tỳ, Mẹ luôn chăm chú vào ý muốn của Vị Chủ tối cao là Thiên Chúa để làm theo kế hoạch của Ngài:
-
- Sẵn sàng hủy bỏ ý định riêng để đón nhận sứ mệnh làm mẹ của Con Thiên Chúa. Để chu toàn sứ mệnh này, Mẹ phải liên tục hủy bỏ nhiều thứ: sự an toàn của một thiếu nữ đã đính hôn với anh Giuse; quyền lợi của một phụ nữ mang thai, sinh con, nuôi dạy con và được con cái chăm sóc khi về già…
- Kể từ giây phút chấp nhận “là nữ tỳ ấy” cho đến cuối đời của Đức Mẹ đều là “nữ tỳ nối tiếp nữ tỳ”, nghĩa là hủy bỏ nối tiếp hủy bỏ đến TRỐNG RỖNG, rồi được Thiên Chúa ĐONG ĐẦY bằng lời hứa cứu độ của Ngài qua Kinh Thánh, được tóm tắt qua lời sứ thần truyền tin, làm Mẹ luôn cậy trông: “Thiên Chúa là Đấng phép tắc và lòng lành vô cùng, đã phán hứa sự ấy chẳng có lẽ nào sai được”[3].
…đến “NỮ VƯƠNG”
Ngày 01 tháng 11 năm 1954, bốn năm sau khi tuyên bố tín điều Đức Maria hồn xác về trời, Đức Thánh Cha Piô XII đã long trọng đội triều thiên lên tượng Đức Trinh Nữ là:” Sự cứu rỗi của dân thành Rôma và toàn thế giới”. Ngài xin Mẹ cai quản trên Giáo Hội, mọi cá nhân, mọi gia đình cũng như mọi xã hội và mọi quốc gia…
MẸ LÀ ÁNH SAO HY VỌNG
Mẹ là Ánh Sao Hy Vọng
Như thế là Mẹ đã sống tròn đầy NIỀM HY VỌNG KITÔ GIÁO mà chính Đức Kitô, Con của Mẹ đem đến cho nhân loại, trong đó có Mẹ. “Đức Maria là người nữ của hy vọng. Mẹ là một người của hy vọng: chính vì Mẹ tin vào lời hứa của Thiên Chúa và chờ đợi sự giải thoát của dân Israel, mà thiên thần có thể đến với Mẹ và mời gọi Mẹ cộng tác vào một sứ vụ mang tính quyết định cho lời hứa này”[4]. Như thế, chiêm ngắm Mẹ là Ánh Sao Hy Vọng làm chúng ta hy vọng sẽ được cùng với Mẹ một ngày kia trên quê hương thiên quốc.
Sống trong một thế giới đầy chiến tranh, bạo lực, thiên tai, nhân tai…chúng ta gặp nhiều thử thách về Đức Cậy: có những điều quá buồn; có những cái quá cực; có những thứ quá đau; có những tình cảnh quá sợ và kéo dài…làm chúng ta bồn chồn thao thức và tự chất vấn: “Có Chúa thật không?” Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI cho chúng ta câu trả lời: “Hy vọng cao cả, thật sự vững vàng của con người ngay cả trong mọi nỗi tuyệt vọng chỉ có thể là Thiên Chúa –một vị Thiên Chúa đã yêu thương chúng ta’đến cùng’, đến khi mọi sự đã hoàn tất’”[5].
“Chứng tá hùng hồn nhất của niềm hy vọng là Mẹ Thiên Chúa. Nơi Mẹ, chúng ta thấy rằng niềm hy vọng không phải là sự lạc quan hão huyền, mà là một món quà ân sủng trong hiện thực cuộc sống[6]”. Thật vật, là Nữ Vương Thiên Quốc, Mẹ luôn dõi theo con cái khắp nơi. Chứng kiến những đau thương khốn khổ của con cái trên trần gian, Mẹ tiếp tục mời gọi chúng ta đến với Chúa Giêsu Thánh Thể: “Hãy đến chân bàn thờ này”, vì Chúa Giêsu chính là NGUỒN HY VỌNG CHO TẤT CẢ MỌI NGƯỜI.
Thế giới sẽ lâm cơn nguy biến (Đức Mẹ có vẻ buồn bã…)
Hãy đến chân bàn thờ này,
nơi đây sẽ tuôn ra nhiều hồng ân cho mọi người lớn nhỏ đến cầu xin[7].
[1] Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, Thông điệp Spe salvi, số 15
[2] Lc 1, 31-33
[3] Kinh Cậy
[4] Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI, Thông điệp Deus Caritas est, Rom 205, số 41
[5] Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI – Thông điệp Spe salvi, số 27
[6] ĐTC Phanxicô, Hy vọng không làm thất vọng, số 24
[7] X. NTBAVSVN-Đức Mẹ và thánh Catherine Labourê, trang 25