11.04.2026 – NGÀY THỨ BẢY TUẦN BÁT NHẬT PHỤC SINH
Mc 16,9-15
“Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ,
loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo.”
(Mc 16,15)
CHIÊM NGẮM MẸ SỐNG TIN MỪNG:
Cái chết đau thương của Chúa Giêsu đã gây xôn xao cho cả thành Giêrusalem, đặc biệt là các Tông đồ và môn đệ của Người. Họ đã tận mắt chứng kiến Thầy mình bị bắt, bị kết án và bị đóng đinh. Họ đã bỏ chạy, đã chối Thầy và hầu hết đều suy sụp tinh thần. Chính vì thế, khi nghe tin Người sống lại, họ vẫn sợ hãi và hoang mang, không dễ tin. Thánh sử Mác-cô nói rằng họ “cứng tin”.
Chúa Giêsu Phục Sinh không bỏ mặc họ trong tình trạng ấy. Người kiên nhẫn hiện ra nhiều lần để củng cố đức tin cho họ. Người hiểu nỗi sợ và sự yếu đuối của họ. Và rồi, từ chính những con người từng hoài nghi ấy, Người trao một sứ mạng thật lớn: “Anh em hãy đi khắp tứ phương thiên hạ, loan báo Tin Mừng cho mọi loài thọ tạo” (c.15).
Điều này thật nghịch lý: những con người từng sợ hãi, từng nghi ngờ, lại được sai đi làm chứng cho một điều vượt quá trí hiểu: mầu nhiệm Phục Sinh. Nhưng chính ở đây, ta nhận ra một chân lý quan trọng: đức tin không khởi đi từ lý trí, mà từ việc gặp gỡ Đấng Phục Sinh, để Người yêu mến và biến đổi tâm hồn ta.
Khi các tông đồ thực sự gặp được Chúa, họ đã thay đổi. Từ những con người sợ hãi, họ trở nên can đảm. Từ những người đóng kín cửa, họ bước ra loan báo Tin Mừng. Bị cấm đoán, bắt bớ, họ vẫn quả quyết: “Phải nghe lời Thiên Chúa hơn là nghe lời người phàm.”[1] Niềm tin vào Chúa Phục Sinh đã trở thành sức mạnh biến đổi cuộc đời họ. Hơn nữa, các tông đồ còn tận dụng những dịp bị tra vấn như cơ hội để loan báo Tin Mừng cho cả giới lãnh đạo Do Thái.
Không ít lần, ta thấy mình giống các môn đệ: muốn tin, nhưng lại bị lôi kéo bởi thực tế khó khăn, những vết thương lòng làm ta thất vọng hay những câu hỏi chưa có lời đáp. Ta tự hỏi: “Có Chúa thật không? Người có đang ở đây không?”. Hoài nghi là đúng, vì ta không tự sở hữu được niềm tin vào Chúa Phục Sinh nhưng cần mở lòng đón nhận ân sủng này từ Thiên Chúa. Nhìn vào gương Đấng đáng kính P.X. Nguyễn Văn Thuận, ta dễ dàng nhận ra niềm Hy Vọng Kitô Giáo luôn sáng tỏ nơi ngài, dù bị đặt vào trong một hoàn cảnh vô cùng bất công, bị đối xử tệ bạc và tương lai mù mịt…nhưng ngài đã trở nên chứng nhân sống động của Niềm Hy Vọng đó, vì ngài luôn xác tín Chúa vẫn đang ở với ngài. Tâm hồn ngài vẫn bình an giữa bao thử thách và trở thành người loan báo Tin Mừng bằng chính cuộc sống lao tù của mình: tôn thờ Thiên Chúa duy nhất, yêu thương giúp đỡ anh em trong tù và cả những người coi tù…
Cuộc đời Mẹ Maria là một hành trình loan báo Tin Mừng cùng với Chúa Giêsu, từ Nazareth tới nhà bà Êlisabeth; từ Belem tới Ai-cập, và suốt 30 năm âm thầm tại Nazareth, Mẹ loan báo Tin Mừng bằng niềm Hy Vọng trong mọi hoàn cảnh, nêu gương đầm ấm hòa thuận trong gia đình. Đặc biệt, Mẹ âm thầm dõi theo Chúa trong hành trình truyền giáo của Người, và của các tông đồ sau khi Chúa về trời. Mẹ không dạy giáo lý cũng không giảng thuyết hùng hồn, nhưng cả cuộc đời Mẹ là một bài giáo lý sống động nhất, bài giảng hùng hồn nhất về Tin Mừng là chính Chúa Giêsu. Chính nhờ Mẹ, Chúa Giêsu đã đến với nhân loại chúng ta, nhờ Mẹ mà chúng ta được hưởng ơn Chúa cứu độ.
SỐNG TIN MỪNG VỚI MẸ:
Noi gương Mẹ, tôi luôn sống niềm Hy Vọng Kitô Giáo trong mọi hoàn cảnh.
CẦU NGUYỆN VỚI MẸ:
Lạy Mẹ Maria, xin giúp con yêu mến và sống gắn bó với Chúa mỗi ngày mật thiết hơn nữa, để qua mọi hành vi và ngôn ngữ của con, mọi người nhận ra Chúa đang hiện diện trong thế giới này. Amen
Lạy Mẹ Maria Vô Nhiễm Nguyên tội,
Xin cầu cho chúng con hằng chạy đến kêu xin Mẹ.
[1] X. Bài Đọc I, Cv 4,19-20
