fbpx

LỄ TRUYỀN TIN 25.3

KỶ NGUYÊN MỚI
LỄ TRUYỀN TIN 25.3

“Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới, sinh làm con một người đàn bà, và sống dưới Lề Luật,  để chuộc những ai sống dưới Lề Luật, hầu chúng ta nhận được ơn làm nghĩa tử”[1].

Kỷ nguyên mới là đây!

Kỷ Nguyên Cứu Chuộc, nhờ Con Thiên Chúa tự nguyện nhập thể làm người để cứu nhân loại. Sứ thần Gabriel được Thiên Chúa sai tới cô Maria để ngỏ lời mời cộng tác vào kế hoạch yêu thương này: “Mừng vui lên, hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà.” Nghe lời ấy, bà rất bối rối, và tự hỏi lời chào như vậy có nghĩa gì.[2]

Biến cố trọng đại này không chỉ làm cô Maria bối rối mà còn gây xôn xao cả vũ trụ, làm ngây ngất bao lòng người với những vần thơ, dòng nhạc không dứt…

Hỡi Sứ thần Thiên Chúa Gabriel,
Khi Người xuống truyền tin cho Thánh Nữ,
Người có nghe xôn xao muôn tinh tú?
Người có nghe náo động cả muôn trời?
Người có nghe thơ mầu nhiệm ra đời
Để ca tụng, – bằng hương hoa sáng láng
Bằng tràng hạt, bằng Sao Mai chiếu rạng
Một đêm xuân là rất đỗi anh linh?[3]

Vậy biến cố đã xảy ra khi nào? Tại sao lễ Truyền Tin lại được đặt vào ngày 25 tháng 3 hàng năm? Ngày này luôn rơi vào Mùa Chay và đôi khi vào ngay Tuần Thánh khiến Giáo Hội phải dời lại sau lễ Phục sinh. Thưa, chỉ vì 25 tháng 3 chính xác là 9 tháng trước lễ Giáng Sinh. Như vậy, Giáo Hội muốn chúng ta mừng kính ngày Đấng Cứu Thế thụ thai trong cung lòng người Mẹ rất thánh của Người, tiếp đến là ngợi ca Đức Maria, Đấng đã thưa “xin vâng” trước lời ngỏ của Thiên Chúa, để cộng tác vào chương trình cứu độ của Ngài.  

Lời đáp trả của Đức Maria: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”, thường được gọi là lời “Fiat-xin vâng” của Đức Maria, diễn tả một niềm mong ước vui vẻ, ước muốn một điều gì, chứ không bao giờ là một sự nhẫn nhục, cam chịu hay vâng phục cách miễn cưỡng một điều gì nghiêm trọng và khó chịu. Qua lời Fiat, Đức Maria biểu lộ một niềm vui phó thác trọn vẹn cho thánh ý Thiên Chúa, ước muốn tích cực cộng tác với kế hoạch của Thiên Chúa, nghĩa là điều Thiên Chúa tiên liệu cho ngài, vọng lại niềm vui khởi đầu biến cố: “Mừng vui lên!”

Tuy nhiên, Thiên Chúa không lừa gạt ai. Khi chấp nhận chương trình của Thiên Chúa, thụ thai để làm mẹ Đấng Cứu Thế, Đức Maria biết rõ nguy hiểm chờ đón mình, thậm chí nguy hiểm đến tính mạng: theo luật Do Thái, nếu một thiếu nữ đã đính hôn mà mang thai ngoài hôn nhân, người chồng có quyền tố cáo và người ta sẽ lôi cô gái ra khỏi thành, ném đá cho đến chết.[4] Vậy “thụ thai ngay bây giờ” cũng có nghĩa là chấp nhận án tử hình. Tiếng “xin vâng” của Đức Maria quả thực là tiếng nói can đảm, vâng phục, tin tưởng và phó thác trọn mạng sống mình trong tay Thiên Chúa. Lời xin vâng này sẽ theo Đức Maria suốt cả cuộc đời cho đến chân thập giá. Đức Maria đã phải đi con đường bóng tối và thử thách của đức tin.


LỄ TRUYỀN TIN VÀ VIỆC “LÀM MỚI LẠI CÁC LỜI KHẤN” CỦA NỮ TỬ BÁC ÁI

Việc làm mới lại các lời khấn hằng năm giúp các Nữ Tử Bác Ái khẳng định thêm ý muốn đáp lại ơn gọi, đồng thời bảo đảm cho việc phục vụ Đức Kitô  trong Tu Hội được bền vững: nó đòi hỏi các Chị phải có một hành động quyết định tự do và luôn luôn được cảm hứng bởi tình yêu.[5]

Chúng ta biết, tu hội Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn được thánh Vinh Sơn Phaolô và thánh nữ Louise de Marillac thành lập năm 1633. Chín năm sau, vào ngày lễ Truyền Tin, 25.3.1642, thánh nữ Louise và bốn chị Nữ Tử Bác Ái tuyên khấn lần đầu, « khấn trọn đời ». Đến năm 1648, các lời khấn được qui định là hằng năm. Các chị em xin phép thánh Vinh Sơn để làm mới lại các Lời Khấn.

Truyền thống chị em «làm mới lại các lời khấn hằng năm» vào ngày lễ Truyền Tin, 25 tháng 3, theo ý muốn của thánh nữ Louise de Marillac, để liên kết sự tận hiến của mẹ thánh Louise và của con cái mẹ với lời Xin Vâng của Đức Trinh Nữ Maria. Đối với người Nữ Tử Bác Ái Vinh Sơn, trọng tâm của sự dâng hiến của các Chị là việc phục vụ Đức Kitô nơi người nghèo. Chính vì thế, Chuẩn Sinh trở thành Nữ Tử Bác Ái khi vào Tập Viện. Tuy nhiên, cần có Lời Khấn để ở lại trong Tu Hội[6].

Vào ngày Truyền Tin, sứ thần báo cho Đức Maria về sứ mệnh Thiên Chúa muốn trao phó cho Mẹ. Mẹ đã bày tỏ sự hoàn toàn sẵn sàng qua lời đáp trả : « Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa…». Khi nhìn ngắm Đức Maria, các Nữ Tử Bác Ái học noi gương Mẹ để trở nên những Nữ Tỳ hoàn toàn sẵn sàng thi hành những điều Thiên Chúa đang chờ đợi nơi các chị, lưu tâm đến con người, khiêm tốn phục vụ người nghèo, là những người mà các chị được sai đến.  

Thành ngữ « làm mới lại các lời khấn hằng năm », có nghĩa là hằng năm chị Nữ Tử Bác Ái có cơ hội thưa lại tiếng « xin vâng »  mà không làn gián đoạn sự cam kết trong thời gian. Trái lại, «đó là một tiến trình giúp mỗi chị em đọc lại đời sống, lấy lại sự sinh động, cam kết lại một lần nữa trong sự trung thành. Đó là phương thế để phát triển về nhân bản, thiêng liêng và ơn gọi.[7]» Như thế, nguyên tắc này không làm giảm tầm quan trọng cũng như tính triệt để của lời khấn. Nó cho cơ hội chọn lựa sống thực sự. Khi đó lời khấn là những dấu chỉ ngôn sứ.[8]

Cha Thánh Vinh Sơn thấy trước sự yếu đuối của phận người nên đã khuyến cáo con cái : «Tuy nhiên, đừng tuyên khấn thì tốt hơn khi khấn mà lại có ý định sẽ xin miễn chuẩn khi nào chị em muốn. »[9] 

Thánh ý Chúa đã rõ ràng khi Giáo Hội đã phê chuẩn Hiến Pháp và Nội Qui của Tu Hội và nhìn nhận những lời khấn của Nữ Tử Bác Ái « theo cách thế mà Tu Hội vẫn hiểu, trung thành với các đấng sáng lập. »[10]

XIN CHÚC TỤNG THIÊN CHÚA MÃI ĐẾN MUÔN ĐỜI !


[1] Gl 4, 4-5
[2] Lc 1, 28-29
[3] Hàn Mạc Tử, trích thơ “Thánh nữ đồng trinh Maria Ave Maria”
[4] X. Đnl 22, 22-23
[5] HP số 28e
[6] Chuẩn bị khấn-Bản hướng dẫn trang 33.
[7] Nt.
[8] Nt.
[9] BNC 19.7.1640, Coste IX,25
[10] HP số 28a

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *